Trấn Chỉ Đè Lên Nước Mắt
Chương 1
Mùa đông năm ngoái ta từng muốn mua một đao giấy như vậy, phụ thân bảo quá đắt, trong nhà không cần cầu kỳ đến thế.
Giờ thì cuối cùng cũng dùng tới rồi.
Ta gấp lại tờ nhận tội, ép đúng theo nếp gấp cũ. Khi ngăn bí mật khép lại, miếng gỗ khe khẽ cài vào, thanh âm còn nhỏ hơn cả tiếng mưa.
Trà sâm đã nguội.
Ta bưng chén trà bước ra sau bình phong.
Mẫu thân là người nhìn thấy ta trước tiên.
Nước mắt trên mặt bà còn chưa kịp lau đi.
Môi bà động đậy một chút, theo phản xạ đứng bật dậy, tay áo hất đổ giỏ kim chỉ bên mép bàn.
Một cuộn vải màu xám xanh lăn ra ngoài, mềm mại đổ dưới chân.
Là lông cáo bạc.
Phụ thân nhìn ta một cái, ánh mắt rất nhanh đã ổn định trở lại.
“Đến từ lúc nào?”
Ta đặt trà xuống cạnh tay ông.
“Vừa mới tới.”
Mẫu thân cúi người nhặt cuộn vải, tay run dữ dội. Huynh trưởng ngồi bên phải phụ thân, đầu ngón tay đè trên đầu gối, không nhìn ta.
Phụ thân nâng trà lên nhấp một ngụm rồi nhíu mày.
“Nguội rồi.”
Ta cúi đầu.
“Con đi đổi lại.”
Ông “ừ” một tiếng, giống hệt mọi ngày.
Ta xoay người rời khỏi thư phòng.
Gió dưới hành lang thổi đèn lồng lay động. Mưa bụi nghiêng nghiêng táp lên mặt. Khi đi tới cổng viện, ta nghe mẫu thân trong phòng thấp giọng hỏi:
“Nó nghe thấy rồi sao?”
Không ai trả lời.
Ta cũng không quay đầu lại.
Đoạn 2: Quá khứ và sự phòng bị
Thư phòng nhà họ Lận có hai chiếc bàn.
Một chiếc đặt nơi sáng sủa, gỗ tử đàn, rộng lớn, góc bàn đè một khối ấn đá Thọ Sơn. Người đến nhờ viết trạng ngồi phía đối diện, trước tiên gọi một tiếng “Lận tiên sinh”, rồi lặng lẽ đẩy phong bạc tới bên tay phụ thân.
Chiếc còn lại đặt dưới cửa sổ phía tây, ngắn hơn một đoạn, tựa sát tường.
Mùa đông gió lùa tới nơi ấy trước, mùa hạ muỗi cũng đáp xuống nơi ấy đầu tiên. Mặt bàn có một vết nứt cũ, là năm ta mười ba tuổi chép khẩu cung, nghiên mực trượt xuống đập thành.
Khi ấy phụ thân vừa nhận một vụ tranh chấp khế điền, thức trắng đêm xem án đến đau đầu, thuận tay đưa giấy cho ta.
“Thanh Tài, con xem hai tờ khế này khác nhau ở đâu.”
Ta nhìn suốt một đêm, hôm sau nói với ông rằng, chữ “mẫu” trên tờ thứ hai thiếu một vệt mực, giống như được bổ thêm về sau.
Phụ thân cầm khế thư tới nha môn, lúc trở về, bên ngoài đều nói: “Lận tiên sinh mắt sáng như đuốc.”
Bữa tối hôm ấy, mẫu thân gắp cho huynh trưởng một cái đùi gà.
Gắp cho ta một miếng bụng cá.
“Cha con bảo con cẩn thận tỉ mỉ.” Bà cười nói. “Nữ tử mà biết tỉ mỉ là chuyện tốt, sau này quản gia sẽ không chịu thiệt.”
Huynh trưởng lúc ấy mới mười lăm tuổi, học sách đến mệt, nghe vậy bật cười:
“Sau này án của phụ thân để muội xem qua một lượt cho ta, vậy ta đỡ phiền.”
Mọi người đều cười.
Ta cũng cười.
Về sau, chuyện “đỡ phiền” càng lúc càng nhiều.
Phụ thân bảo chữ ta ổn, sai ta chép trạng.
Huynh trưởng bảo trí nhớ ta tốt, để ta học thuộc khẩu cung. Mẫu thân nói đêm ta ít buồn ngủ, bèn đem cho ta một chén trà long nhãn.
Khách đến nhà họ Lận chưa từng nhìn thấy ta.
Bọn họ chỉ thấy phụ thân mặc trường sam xanh ngồi nơi chính sảnh, nghe xong án tình thì trầm ngâm hồi lâu, rồi hạ bút viết.
Mà nét chữ ấy, đôi khi là do ta viết.
Ta viết xong, phụ thân chỉ thêm phần ký tên.
Lận Hoài Chương.
Ba chữ ngay ngắn, thanh quý.
Từ năm mười sáu tuổi, phàm là trạng giấy, khẩu cung, khế thư qua tay ta, ta đều chép thêm một bản phụ.
Ban đầu giữ lại những tờ giấy ấy, ta chưa từng nghĩ sẽ hại ai.
Ta chỉ là sợ.
Điều ta sợ không phải phụ thân trách mắng, cũng không phải huynh trưởng oán trách.
Ta sợ có một ngày, chữ nghĩa nhà họ Lận xảy ra chuyện, người đầu tiên bị đẩy ra gánh tội, sẽ là kẻ chưa từng được ngồi nơi chính sảnh.
Nhưng ta cũng biết, sợ thì sợ, những bản phụ ấy không thể dễ dàng đem ra ngoài.
Nữ tử tự ý cất giữ án quyển, vốn đã là sai.
Huống chi đa phần giấy tờ đều không có quan ấn, không có nha môn đóng dấu. Nếu thật sự làm lớn chuyện, phụ thân chỉ cần một câu “nữ nhi lén học công văn, không biết nặng nhẹ”, kẻ phá quy củ đầu tiên sẽ thành ta.
Cho nên bao năm nay, ta chỉ chép, chỉ giấu, chưa từng nói.
Ta cũng từng nghĩ tới việc nói ra.
Nhưng lời còn chưa kịp mở miệng, người đứng không vững trước tiên thường vẫn là ta.
Cho đến khi Thôi Nghiễn Hành nhậm chức.
Vị phủ doãn mới lật lại án cũ, tra xét hồ sơ tồn đọng. Ngay cả phụ thân trên bàn cơm cũng lạnh mặt, nói người này “không hiểu nhân tình, sớm muộn cũng đụng tường”.
Khi ấy ta cúi đầu uống canh, không tiếp lời.
Nhưng đêm ấy, ta nhớ kỹ cái tên này.
Một người không hiểu nhân tình, chưa chắc dễ ở chung.
Nhưng đôi khi, cũng chỉ có loại người ấy, mới chịu nhìn giấy trước, rồi mới nhìn nhân tình.
Phụ thân từng phát hiện ta giữ bản phụ một lần.
Hôm đó ông lục ra một xấp bản sao dưới gầm bàn của ta, sắc mặt trầm xuống.
“Con giữ những thứ này làm gì?”
Ta đáp: “Con sợ quên.”
Ông nhìn ta thật lâu, cuối cùng bật cười.
“Tính con giống mẫu thân, chuyện gì cũng muốn để lại đường lui.”
Mẫu thân cũng cười, đứng bên cạnh nói đỡ cho ta: “Nữ nhi cẩn thận một chút cũng tốt.”
Đêm ấy, ta đổi chỗ cất án quyển.
Giấu trong tiệm vàng mã ở hẻm sau chùa Phúc An. Tiệm ấy do con trai của nhũ mẫu Hà ma ma mở, ngày thường viết văn tế, bán giấy tiền. Sau nhà có một căn phòng ẩm thấp, chẳng ai thích bước vào.
Ta dùng giấy dầu bọc kỹ án quyển, mỗi năm đưa tới hai lần.
Mỗi lần đem tới, Hà ma ma đều hỏi: “Cô nương giữ những thứ này làm gì?”
Ta đáp: “Để phòng chết.”
Bà tưởng ta nói đùa, giơ tay gõ nhẹ lên trán ta.
“Cô nương tốt lành, đừng nói lời xui xẻo.”
Ta cũng thấy lời mình chẳng may mắn gì.
Cho đến đêm đứng trong thư phòng phụ thân, nhìn tờ nhận tội kia, ta mới hiểu…
Có vài lời xui xẻo, thật sự sẽ chờ người.
Đoạn 3: Tiếng trống kêu oan
Sáng hôm sau trời chưa sáng hẳn, mưa đã tạnh.
Ta ngồi dưới đèn suốt một đêm, đem những lời nghe được tối qua nghĩ đi nghĩ lại cho rõ ràng.
Ba ngày sau, bọn họ sẽ đưa ta đi nhận tội.
Ba ngày… đủ để phụ thân viết lại một tờ nhận tội mới, đủ để huynh trưởng tìm xong nhân chứng, đủ để mẫu thân sửa soạn cho ta một chiếc hòm, bên trong đặt vài bộ áo dày mặc trong lao ngục.
Cũng đủ để nhà họ Lận nói hết mọi lời trước mặt ta.
Ta không thể đợi.
Ba ngày sau, là bọn họ thay ta mở miệng.
Còn hôm nay, là ta nói trước.
Ai là người đem trạng giấy dâng lên công đường trước, kẻ ấy sẽ quyết định vụ án này mang hình dạng gì.
Ta thay một thân y phục màu nhạt, buộc tóc thật chặt.
Người trong gương đồng sắc mặt tái nhợt.
Ta nhìn nàng thật lâu, rồi đưa tay ép lọn tóc vụn cuối cùng vào búi tóc.
Kẻ sợ chết, không thể loạn.
Cũng không thể chậm.
Lúc ra cửa, người gác cổng còn đang gà gật. Thấy là ta, hắn dụi mắt hỏi:
“Cô nương sớm vậy đi đâu?”
Ta đáp: “Đến chùa Phúc An dâng hương.”
Hắn không ngăn.
Nữ tử nhà họ Lận ra ngoài vốn chẳng phải chuyện lớn. Nhất là ta, ngày thường vẫn thay mẫu thân tới chùa chép kinh, dâng dầu đèn, không ai thấy có gì không ổn.
Trên phố hàng quán còn chưa mở cửa, gạch xanh đọng một lớp nước mỏng. Ta đi rất nhanh, vạt váy dính bùn.
Đến trước cổng Kinh Triệu phủ, nha dịch canh cửa đang ngáp dài, đẩy tấm cửa lớn ra.
Ta đứng trước trống kêu oan, đưa tay cầm dùi trống.
Cây dùi nặng hơn ta tưởng.