Ba Năm Không Có Nhà

Chương 2



Tôi nhớ tới năm đầu tiên tôi và Tô Vãn mới kết hôn, đêm giao thừa hai đứa co ro trên sofa xem Gala Xuân Vãn, bên ngoài có người bắn pháo hoa, cô ấy tựa vào vai tôi nói:

“Lâm Viễn, cả đời này chúng ta cứ sống như vậy, được không?”

Tôi nói:

“Được.”

Nhưng mới qua vài năm, chúng tôi đã sống thành ra thế này.

Tôi trở mình, vùi mặt vào gối, nghe thấy Trương Lỗi trên chiếc giường bên cạnh trở qua trở lại thở dài, nghe tiếng súng xa xa lại vang lên vài lần nữa, nghe tiếng gió lùa qua lều phát ra âm thanh u u như đang khóc.

Ngày hôm sau, nhiệm vụ bắt đầu.

Nhiệm vụ gìn giữ hòa bình thật sự còn tàn khốc hơn tôi tưởng tượng gấp một trăm lần.

Khu vực chúng tôi phụ trách có một trại tị nạn, tiếp nhận hơn ba vạn dân thường chạy trốn khỏi vùng chiến loạn. Điều kiện trong trại cực kỳ tồi tệ, thiếu nước thiếu điện, bệnh truyền nhiễm hoành hành, mỗi ngày đều có trẻ em chết vì tiêu chảy và sốt rét.

Một trong những công việc của tôi là phối hợp với tổ chức y tế địa phương phát thuốc và thực phẩm.

Lần đầu tiên bước vào trại tị nạn, tôi thật sự bị chấn động.

Hàng ngàn căn lều dựng bằng bạt nhựa và cành cây chen chúc sát nhau, không có đường đi, chỉ có những lối nhỏ bị người ta giẫm ra giữa bùn lầy. Trong không khí tràn ngập mùi phân và thức ăn thối rữa, ruồi nhặng vo ve khắp nơi.

Bọn trẻ chân trần chạy trong nước bùn, có đứa thậm chí chỉ mặc một chiếc quần đùi rách không thể rách hơn. Chúng nhìn thấy mũ nồi xanh của chúng tôi liền vây lại, dùng thứ tiếng Anh lơ lớ xin đồ ăn.

Tôi bế một bé gái gầy tới mức chỉ còn da bọc xương lên.

Con bé khoảng ba bốn tuổi, còn nhỏ hơn cả Nhiên Nhiên. Nó nằm trên vai tôi, bàn tay nhỏ nắm chặt cổ áo tôi, móng tay đầy bùn đất.

Khoảnh khắc ấy, tim tôi như bị thứ gì đó hung hăng va mạnh một cái.

Tôi cũng có một cô con gái, lúc này hẳn đang ngồi trong căn nhà sáng sủa, ăn hoa quả, xem hoạt hình.

Còn đứa trẻ này, nó mất cha mẹ giữa chiến tranh, ngay cả một bữa cơm no cũng không có.

Sau đó tôi được điều tới trạm gác, phụ trách quan sát và báo cáo tình huống bất thường trên tuyến biên giới.

Trạm gác nằm trên một ngọn đồi nhỏ, xung quanh là thảo nguyên cây thưa trải dài vô tận, nơi đường chân trời xa xa thỉnh thoảng có thể nhìn thấy vài làn khói bếp.

Công việc mỗi ngày chỉ là cầm ống nhòm, nhìn về những nơi xa xôi có lẽ mãi mãi cũng sẽ không tới gần.

Kiểu khô khan và cô độc này, đôi khi còn giày vò con người hơn cả mưa bom bão đạn.

Trương Lỗi trực cùng tôi.

Hai người thay phiên canh gác, một người quan sát, một người nghỉ ngơi. Trạm gác rất nhỏ, chỉ vài mét vuông, ngoài ống nhòm, máy bộ đàm và một cái ghế thì chẳng còn gì khác.

“Anh Lâm, anh nói xem chúng ta ở đây một năm, vợ có chạy theo người khác không?”

Một buổi tối nọ, Trương Lỗi đột nhiên hỏi tôi.

Cậu ấy ngồi trong góc trạm gác, cầm trong tay một chiếc phong bì nhăn nhúm, là thư vợ gửi tới. Trong thư chỉ có vài dòng:

“Em và con đều rất khỏe, anh chú ý an toàn, đừng lo cho gia đình.”

“Không đâu.” Tôi nói, nhưng giọng nói lại chẳng có chút tự tin nào.

“Có lúc em nằm mơ thấy cô ấy, tỉnh dậy thì gối đều ướt hết.” Trương Lỗi nhếch miệng cười một cái, trong nụ cười có vị chua xót không nói thành lời, “Anh nói xem chúng ta có phải tự chuốc khổ không? Đang yên đang lành không sống, lại chạy tới đây chịu tội.”

Tôi không trả lời.

Bởi vì tôi không biết phải trả lời thế nào.

Có những lúc đêm khuya yên tĩnh, tôi cũng sẽ nhớ tới Tô Vãn, nhớ dáng vẻ cô ấy lúc cười, nhớ món sườn kho cô ấy nấu, nhớ dáng vẻ bướng bỉnh khi giận dỗi của cô ấy lúc mím môi lại.

Tôi nhớ tới lần cãi nhau cuối cùng của chúng tôi, cô ấy khóc đau lòng như vậy, còn tôi lại không thể ôm lấy cô ấy.

Tối hôm đó tôi đi trực đêm.

Trên trời có rất nhiều sao, sáng hơn bất kỳ nơi nào tôi từng thấy.

Thảo nguyên phía xa thỉnh thoảng truyền tới vài tiếng thú hoang gào rú, gió thổi qua mái tôn của trạm gác phát ra tiếng lạch cạch.

Tôi ngồi trên ghế, đặt ống nhòm lên đầu gối, nhìn bầu trời sao mênh mông kia, đột nhiên cảm thấy bản thân thật nhỏ bé.

Mọi phiền não, mọi cuộc cãi vã, trước bầu trời sao này đều trở nên nhỏ bé đến mức không đáng kể.

Nhưng có vài tổn thương, vài vết nứt, một khi đã xuất hiện rồi, có phải sẽ mãi mãi không thể bù đắp được nữa không?

Tôi không biết.

Trong lòng tôi bỗng dâng lên một trận chua xót.

Những thứ bị chôn sâu tận đáy lòng giống như có thứ gì đó đang không ngừng, mạnh mẽ gõ vào nơi ấy, như muốn đục thủng tim tôi thành một lỗ hổng.

Tôi hít sâu một hơi, ép suy nghĩ ấy xuống, một lần nữa cầm ống nhòm lên nhìn về phía xa.

Phía xa xa, vài đốm lửa lẻ tẻ lóe lên trên thảo nguyên, không biết là lửa trại hay thứ gì khác.

Đúng lúc ấy, điện thoại tôi rung lên một cái.

Giữa đêm ngoại quốc trống trải và tĩnh lặng này, tiếng rung ấy đặc biệt rõ ràng.

Tôi cầm lên nhìn, là một tấm ảnh Tô Vãn gửi tới.

Trong ảnh, Nhiên Nhiên ôm một con gấu bông, mặc váy hồng nhỏ, cười với ống kính vui vẻ vô cùng.

Bên dưới ảnh có một dòng chữ:

“Nhiên Nhiên nói nhớ bố rồi, bảo em gửi cho anh một tấm ảnh. Anh yên tâm, bọn em vẫn ổn.”

Tôi nhìn chằm chằm tấm ảnh ấy rất lâu.

Đôi mày đôi mắt của Nhiên Nhiên giống hệt mẹ con bé, nhất là lúc cười, mắt cong thành hình trăng non, giống như hai ngôi sao nhỏ sáng lấp lánh.

Tôi không nhịn được đưa tay nhẹ nhàng chạm lên khuôn mặt con gái trên màn hình, giống như có thể vượt qua mấy ngàn cây số, chạm tới làn da mềm mại của con bé.

Khoảnh khắc ấy, tôi thật sự rất muốn ôm con bé vào lòng.

Nhưng tôi chỉ có thể trả lời:

“Nhiên Nhiên, bố cũng nhớ con.”

Sau đó lại bổ sung thêm một câu:

“Xin lỗi.”

Rồi tôi tắt màn hình điện thoại, dùng hai tay che kín mặt.

Bả vai run lên rất lâu, nhưng không phát ra bất kỳ âm thanh nào.

Chương 2: Tiếng Súng Và Ly Biệt

Ngày tháng cứ từng ngày trôi qua, giống như cát trong đồng hồ cát, lặng lẽ chảy đi không một tiếng động.

Tôi dần quen với nhịp sống nơi này:

Sáu giờ sáng thức dậy, mười giờ tối tắt đèn.

Tuần tra, hộ tống, quan sát, báo cáo.

Ngày này qua ngày khác, giống như một cỗ máy vận hành chính xác.

Nhưng có vài thứ, mãi mãi không thể quen được.

Ví dụ như cái chết của trẻ em.

Tháng đó, trong trại tị nạn bùng phát một trận dịch tả.

Chương trước Chương tiếp
Loading...