Quỷ Xin Một Bữa Cơm
Chương 2
Âm thanh phát ra từ chuồng heo, con heo quý nhất của nhà ông ta.
Con heo nặng hơn hai trăm cân, định nuôi bán dịp Tết.
“Chắc là ch.ó hoang!”
Vương Đại Đầu đứng trong nhà c.h.ử.i ra sân, nhưng không dám bước ra ngoài.
Tiếng nhai “rắc… rắc…” đó kéo dài suốt cả đêm.
Sáng sớm hôm sau, một tiếng hét t.h.ả.m thiết của phụ nữ làm cả làng tỉnh giấc.
Tôi giật mình bật dậy, ông nội cũng lập tức buông dụng cụ.
Tiếng hét phát ra từ nhà Vương Đại Đầu ở đầu đông làng.
Khi chúng tôi chạy theo đám đông đến nơi, trước cửa nhà ông ta đã đông nghịt người.
Vợ ông ta ngồi sụp trước chuồng heo, nước mắt nước mũi giàn giụa, tay run rẩy chỉ vào bên trong, nói không nên lời.
Còn Vương Đại Đầu, mặt xám như tro, dựa vào tường, mắt đờ đẫn, miệng lẩm bẩm:
“Hết rồi… hết sạch rồi…”
“Chuyện gì vậy? Bị trộm à?”
“Con heo đó là bảo bối của nhà ông ta, gần hai trăm cân đấy, định bán dịp Tết mà!”
Tôi nhỏ người nên chui qua đám chân người nhìn vào, chỉ một cái nhìn thôi, dạ dày tôi lộn tung.
Trong chuồng, con heo béo ục ịch ngày thường đã biến mất.
Không, chính xác là chỉ còn lại một bộ xương trắng toát, bị gặm sạch sẽ.
Bộ xương nằm nguyên vẹn trên đất, từ đầu đến đuôi, mỗi chiếc xương đều sạch bóng.
Không có một giọt m.á.u.
Không có một miếng thịt thừa.
Sạch đến rợn người.
Cả làng hít vào một hơi lạnh, sân nhà lập tức im phăng phắc, chỉ còn tiếng nức nở của vợ Vương Đại Đầu.
“Có… có phải sói trên núi xuống ăn không?”
Một thanh niên run giọng nói.
“Vớ vẩn!”
Một lão thợ săn lập tức bác:
“Sói nào mà ăn sạch đến vậy? Không để lại tí thịt vụn nào?”
“Huống chi cửa chuồng vẫn đóng, sói vào kiểu gì?”
Đám đông lập tức xôn xao.
Lúc này, không biết ai run run nói:
“Hôm qua… tôi thấy… Vương Đại Đầu cho tên ăn xin một bát cơm… còn có thịt…”
Câu nói này khiến tất cả đều liên tưởng.
Mọi ánh mắt lập tức dồn hết về phía Vương Đại Đầu.
Cái vẻ hung hăng hôm qua biến mất sạch.
“Tôi… tôi chỉ muốn dọa nó thôi… với lại, tôi cho nó ăn thật mà! Có lừa nó đâu…”
Ông ta run rẩy: “Ai mà biết… ai mà biết…”
Ông nội chen qua đám đông, đi đến bên chuồng heo.
Ông ngồi xuống, nhìn chằm chằm dấu chân trần trên đất giống hệt dấu chân cạnh chuồng gà nhà tôi.
Sắc mặt ông nội tái xanh.
Ông đứng dậy, nhìn quanh những gương mặt đầy sợ hãi:
“Quỷ đi xin ăn… xin không phải cơm, mà là mạng.”
Ông nội nói từng chữ:
“Cậu cho nó ăn tức là đã hứa cho nó một sinh mạng để trả lễ.”
“Hôm qua bát cơm có thịt, nên sinh mạng phải trả chính là con heo.”
Câu nói khiến da đầu ai cũng tê dại.
Đám người vừa còn ồn ào, giờ không ai dám thở mạnh.
Một cơn gió thổi qua, ai cũng cảm thấy sau gáy lạnh buốt như có thứ gì đó đang thổi hơi vào sau đầu mình.
Con heo nhà Vương Đại Đầu chỉ còn lại một bộ xương, đến cả khe xương cũng bị gặm sạch không còn chút gì.
Chuyện này chưa tới trưa đã lan khắp cả làng.
Ban ngày còn đỡ mọi người tụ tập dưới cây hòe già đầu làng, cố tỏ ra gan dạ mà c.h.ử.i bới vài câu.
Nhưng hễ mặt trời vừa lặn nhà nào nhà nấy đóng kín cửa, đến ch.ó cũng không dám sủa nhiều.
Mấy người già sợ quá, tụ lại dưới gốc hòe cho đỡ sợ, rít t.h.u.ố.c lào, mặt tái mét, bắt đầu kể chuyện cũ.
“Tôi đã bảo tên ăn xin đó không bình thường rồi, cái ánh mắt ấy, giống người sống chỗ nào chứ?”
“Ừ… mà tôi lại nhớ ra một chuyện.”
Người lên tiếng là cụ Lý Tứ, bậc cao niên nhất làng.
Ông gõ tẩu t.h.u.ố.c, hạ thấp giọng:
“Mấy chục năm trước, vào thời nạn đói, trong làng cũng có một người lạ tới. Gầy trơ xương, cũng cầm cái bát mẻ đi xin từng nhà. Nhưng lúc đó, nhà nào còn lương thực đâu? Ai cũng nói không có…”
“Người đó dựng tạm cái lều, ở lại trong làng.”
Cụ Lý Tứ dừng lại, trong mắt lộ rõ sợ hãi:
“Chưa đầy hai năm, người đó c.h.ế.t đói trong cái miếu nát phía tây làng. Nghe nói lúc c.h.ế.t, tay vẫn nắm c.h.ặ.t cái bát rỗng.”
Mọi người nghe xong đều hít một hơi lạnh, không ai dám nói tiếp.
Hóa ra, tên “quỷ ăn xin” này, gốc rễ đã chôn trong đất làng từ lâu.
Sau cơn hoảng loạn ban đầu, mấy ngày liền trong làng lại yên ả.
Tên ăn xin cũng không xuất hiện nữa.
Ngay lúc mọi người nghĩ rằng chuyện đã qua thì chuyện còn quái dị hơn xảy ra.
Chiều hôm đó, tôi chơi bên ngoài về, vừa bước vào sân đã thấy có gì đó không đúng.
Ngẩng đầu lên, dưới mái hiên nhà tôi, không biết từ lúc nào xuất hiện một chuỗi đồ vật được xâu bằng dây đỏ.
Thứ đó màu trắng, giống những viên đá chưa mài nhẵn, kết thành chuỗi, gió thổi là phát ra tiếng “lách cách, lách cách”.
Âm thanh khiến da đầu tôi tê dại.
Tôi vội chạy vào gọi ông:
“Ông ơi, có người treo đồ dưới mái nhà mình!”
Ông nội đang uống nước, nghe vậy đặt cái ca men xuống, đi ra theo tôi.
Ông ngẩng đầu nhìn một cái sắc mặt lập tức trầm xuống.
________________________________________
Tôi chỉ vào chuỗi đó hỏi: “Ông, cái này là gì vậy? Ai ác thế treo cái này?”
Ông không trả lời.
Ông bê thang ra, trèo lên tháo chuỗi đó xuống.
Trong làng, không ít người cũng phát hiện mái hiên nhà mình có thứ tương tự, lần lượt ló đầu ra xem.
Ai cũng biết ông tôi hiểu mấy chuyện này.
Chẳng mấy chốc, trước cổng nhà tôi đã tụ tập đông người.
“Chú Lão Căn, cái này là gì vậy?”
“Đúng đó, nhà tôi cũng có, gió thổi là kêu.”
“Lách cách lách cách, nghe ghê quá…”
Ông nội không để ý đến họ, cầm chuỗi đó vào nhà.
Tôi đi theo.
Ông đặt nó dưới ánh đèn dầu, cúi sát lại xem kỹ.
Ánh đèn vàng hắt lên gương mặt ông nội u ám đến mức khiến tôi rùng mình.
“Ông… cái này là đá gì vậy?” tôi nhỏ giọng hỏi.
Ông nội ngẩng đầu, mắt đỏ ngầu, nhìn chằm chằm vào tôi:
“Không phải đá… cũng không phải xương thú.”
Ông nội dùng ngón tay nhón một đoạn, đưa trước mặt tôi:
“Đây là… xương ngón tay người mài thành.”
Đầu tôi “ong” một tiếng, hoảng quá lùi lại, đụng ngã cả ghế phía sau.
Ông nội chậm rãi đứng dậy, đi ra cửa, nhìn những gương mặt đầy sợ hãi bên ngoài:
“Quỷ ăn xin… đang điểm danh.”
“Nhà nào bị treo thứ này người gặp chuyện tiếp theo… có thể là nhà đó.”
Từ khi ông nội nói chuỗi đó làm từ xương ngón tay người cả làng như bị dội một gáo nước lạnh.
Người hoảng loạn đầu tiên là phụ nữ và trẻ con.
Nhà nào cũng đóng c.h.ặ.t cửa, trời vừa tối là không ai dám ra ngoài.
Nhưng tiếng “lách cách” đó vẫn len qua khe cửa, khe cửa sổ mà lọt vào.
Nỗi sợ sẽ biến chất.
Khi con người sợ đến cực điểm, họ sẽ cố tìm một lý do để không còn sợ nữa.
Hoặc nói đúng hơn là tìm một kẻ xui xẻo để gánh thay.
Triệu Lão Tam, gã què trong làng, trở thành kẻ đó.
Không biết ai khơi mào, nói rằng mái hiên nhà ông ấy treo nhiều xương nhất, dày đặc.
“Các người còn nhớ không, năm xưa người c.h.ế.t đói kia chẳng phải từng đ.á.n.h nhau với Triệu Lão Tam để tranh mảnh đất bãi sông sao?”